Tóm lại nội dung ý nghĩa của câu "lang bạt kỳ hồ" trong từ điển Thành ngữ Tiếng Việt. lang bạt kỳ hồ có nghĩa là: Phiêu bạt khắp nơi, lang thang nay đây mai đó, không ổn định. Đây là cách dùng câu lang bạt kỳ hồ. Thực chất, "lang bạt kỳ hồ" là một câu trong từ điển Thành ngữ Tiếng Việt được cập nhập mới nhất năm 2022.
"Lang bạt kỳ hồ" trong ngôn ngữ Việt Nam hiện nay được hiểu là "lang thang phiêu bạt giang hồ đến kỳ thích". Thực ra đây là một thành ngữ chữ Hán 狼跋其胡 "lang bạt kỳ hồ" nói về thế mắc kẹt không tiến thoái được.
Lang bạt kỳ hồ nghĩa gốc chỉ hình ảnh con sói giẫm lên cái yếm của chính nó, nghĩa phái sinh chỉ cái thế mắc kẹt, lúng túng không biết làm sao. Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, lang bạt kỳ hồ nghĩa là " sống nay đây mai đó ở những nơi xa lạ" .
Sáng 20/10, trước giờ khai mạc Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XV, lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đại biểu Quốc hội đã vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Nghĩa của thành ngữ "Lang bạt kỳ hồ" là gì? Đọc khoἀng: 4 phύt. Nghῖa gốc: Con sόi giẫm lên miếng vἀi buộc ở cổ cὐa nό (hoặc giẫm lên cάi bόng cὐa cάi bờm trên cổ), chỉ tὶnh trᾳng lύng tύng, vưσng mắc, không cό tiến triển. Nghῖa biến đổi: Đa phần
LANG BẠT KỲ HỒ. Tác giả: Út Hội. E-mail: xxx***@yahoo.com (Các bạn muốn gửi e-mail đến tác giả hãy gửi e-mail cho Cõi Thiên Thai - CTT sẽ forward cho tác giả) Cõi Thiên Thai xin thay mặt tất cả các bạn độc giả cám ơn tác giả đã gởi truyện. Chương 33: Song kiều tranh bá.
狼跋2. 狼疐其尾、 載跋其胡。 公孫碩膚、 德音不瑕。 Lang bạt 2. Lang trí kỳ vĩ, Tái bạt kỳ hồ. Công tốn thạc phu, Đức âm bất hồ (hà). Dịch nghĩa. Chó sói thoái lui thì đạp nhằm cái đuôi, Bước tới thì đạp nhằm miếng da thòng ở cổ. Chu công từ tốn những vinh dự to tát và tốt đẹp.
lang bạt kì hồ. 1. Con chó sói giẫm lên cái phần da cổ của nó, lúng túng không biết làm sao. Nghĩa bóng: Sự lúng túng, khó xử, tiến thoái lưỡng nan. (Xem: "Thi Kinh" 詩 經, "Quốc phong" 國 風, "Bân" 豳, "Lang bạt" 狼 跋 ). Con chó sói dẫm lên cái phần da cổ của nó
. Ý nghĩa của thành ngữ "lang bạt kỳ hồ" Thành ngữ là một tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa thường không thể giải thích đơn giản bằng nghĩa của các từ cấu tạo nên nó. Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói cũng như sáng tác thơ ca văn học tiếng Việt. Thành ngữ ngắn gọn, hàm súc, có tính hình tượng, tính biểu cảm cao. Việc nói thành ngữ là một tập hợp từ cố định có nghĩa là thành ngữ không tạo thành câu hoàn chỉnh về mặt ngữ pháp, cũng không thể thay thế và sửa đổi về mặt ngôn từ. Thành ngữ thường bị nhầm lẫn với tục ngữ và quán ngữ. Trong khi tục ngữ là một câu nói hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý nhằm nhận xét quan hệ xã hội, truyền đạt kinh nghiệm sống, hay phê phán sự việc, hiện tượng. Một câu tục ngữ có thể được coi là một tác phẩm văn học khá hoàn chỉnh vì nó mang trong mình cả ba chức năng cơ bản của văn học là chức năng nhận thức, và chức năng thẩm mỹ, cũng như chức năng giáo dục. Còn quán ngữ là tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành. Định nghĩa - Khái niệm lang bạt kỳ hồ có ý nghĩa là gì? Dưới đây sẽ giải thích ý nghĩa của câu lang bạt kỳ hồ trong tiếng Việt của chúng ta mà có thể bạn chưa nắm được. Và giải thích cách dùng từ lang bạt kỳ hồ trong Thành ngữ Tiếng Việt. Sau khi đọc xong nội dung này chắc chắn bạn sẽ biết từ lang bạt kỳ hồ nghĩa là gì. Phiêu bạt khắp nơi, lang thang nay đây mai đó, không ổn định. Thuật ngữ liên quan tới lang bạt kỳ hồ bướm chán ong chường là gì? vênh váo như khố rợ phải lấm là gì? đi guốc trong bụng là gì? ăn mặn nói ngay, còn hơn ăn chay nói dối là gì? tiền có đồng, cá có con là gì? học ăn, học nói, học gói, học mở là gì? mạnh vì gạo, bạo vì tiền là gì? con hư tại mẹ, cháu hư tại bà là gì? liệu gió phất cờ là gì? tắt đèn nhà ngói cũng như nhà tranh là gì? vô phúc đáo tụng đình là gì? thứ nhất leo rễ, thứ nhì trễ cành là gì? đánh giáp lá cà là gì? hỗn quân hỗn quan là gì? mỡ gà thì gió, mỡ chó thì mưa là gì? Tóm lại nội dung ý nghĩa của câu "lang bạt kỳ hồ" trong từ điển Thành ngữ Tiếng Việt lang bạt kỳ hồ có nghĩa là Phiêu bạt khắp nơi, lang thang nay đây mai đó, không ổn định. Đây là cách dùng câu lang bạt kỳ hồ. Thực chất, "lang bạt kỳ hồ" là một câu trong từ điển Thành ngữ Tiếng Việt được cập nhập mới nhất năm 2023. Kết luận Hôm nay bạn đã học được thành ngữ lang bạt kỳ hồ là gì? với Từ Điển Số rồi phải không? Hãy truy cập để tra cứu thông tin các thuật ngữ chuyên ngành tiếng Anh, Trung, Nhật, Hàn...liên tục được cập nhập. Từ Điển Số là một website giải thích ý nghĩa từ điển chuyên ngành thường dùng cho các ngôn ngữ chính trên thế giới.
Vui chơi “Lang bạt kỳ hồ” Phạm Vũ Thịnh Thời học trò những năm 1960, tôi có đứa bạn là em ruột một anh chàng đã được biết tiếng là người có máu giang hồ vặt, ưa đi chơi xa “rày đây mai đó”, thường bị bà mẹ than phiền hoài là có đứa con cứ đi “lang bạt kỳ hồ”, ít khi thấy ở nhà với cha mẹ anh em, khiến bà phải lo lắng thường xuyên về an toàn, về chuyện ăn, ở, đói, lạnh, ... của anh ấy. Đứa trẻ đang lớn là tôi thì lại thấy có phần cảm phục anh là người đi nhiều, biết rộng, đã đến và sống được ở nhiều nơi mà địa danh tôi chỉ đọc được trong sách vở. Tôi mơ hồ nghĩ đến “hồ Lãng Bạc” trong bài hát, câu văn nào đấy đã đọc được, mà cảm thấy cảnh đời “rày đây mai đó” có chút gì đấy lãng mạn, hấp dẫn. Nhưng mấy năm gần đây tôi mới biết “lang bạt kỳ hồ” nguyên là một thành ngữ tiếng Hán có ý nghĩa hoàn toàn khác! Tìm trên mạng thì thấy có bài “Phản biện về thành ngữ Lang Bạt Kỳ Hồ” của Phan Anh Dũng, viết rằng Trích Kinh Thi “Lang Bạt” 狼跋, ở thiên Mân Phong 豳風 có ghi 狼 跋 其 胡, 载 疐 其 尾 . Lang bạt kì hồ, tải chí kì vĩ. Nghĩa đen là "Con sói bước tới dẫm vào yếm lông trước cổ của mình, lui lại vấp phải cái đuôi của mình" TS Nguyễn Ái Việt dịch 公孫碩膚、赤舄几几。 Công tôn thạc phu, xích tích kỉ kỉ Đại ý là “Bậc đại nhân quý tộc, đi hài đỏ dáng yên bình, ổn định, chắc chắn”. Để hiểu sâu ý nghĩa toàn bài “Lang bạt” cần phải phân tích kết hợp nghĩa của cả hai câu trên, rõ ràng chúng là những hình ảnh mang tính đối lập, ví von và giàu ẩn ý - Một bên thì có bộ điệu cập rập lúng túng chân nọ đá chân kia, một bên thì đi đứng khoan thai, bình ổn. - Một bên vốn là giống vật hoang dã quen lang thang ngoài thảo nguyên hay trong rừng rậm, không có chỗ trú ẩn cố định, một bên là bậc quý tộc đại nhân, đi đứng khoan thai bình ổn trong điền trang hay dinh thự của mình.. Hết trích Từ điển Thiều Chửu cho biết “胡 hồ Yếm cổ, dưới cổ có mảng thịt sa xuống gọi là hồ. Râu mọc ở đấy gọi là hồ tu 胡鬚. Tục viết là 鬍. Nói trong cổ họng, nói năng không được rành mạch gọi là hàm hồ 含胡. Cũng viết là 含糊. Nói quàng gọi là hồ thuyết 胡說, làm càn gọi là hồ vi 胡爲 hay hồ náo 胡鬧” Tôi đoán mò rằng thời xưa ở vùng đó trong Kinh Thi có lẽ đã có loài sói gì đấy, da nơi cổ càng già càng thòng xuống đến chạm đất ! khiến con sói bước tới thì vấp mà bước lui thì lại vấp cái đuôi!. Chủ ý là muốn so sánh cái vấp váp lúng túng đáng chế nhạo của con sói, so với dáng điệu, bước đi khoan thai, sang cả của “bậc đại phu quý tộc”! * Vậy thì, hãy thử tưởng tượng quá trình người Việt Nam sáng chế ra thành ngữ “lang bạt kỳ hồ” theo nghĩa “lang thang rày đây mai đó” như thế nào. Sự thực là người Việt Nam ngày xưa đã dùng tiếng Hán suốt hai ngàn năm cho đến khoảng đầu thế kỷ 20, trong triều đình, trong giới học thuật, khoa cử, trong văn kiện, văn học,... ; tuy nhiên ngay trong nước thì họ nói hay đọc theo âm Hán Việt chứ không dùng âm Hán giọng Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu, Bắc Kinh, Hải Nam,... Trong đời sống hàng ngày, giới có học này nhiều khi dùng cả những từ ngữ tiếng Hán với nhau, và dạy bảo cả cho người thân không thuộc giới có học nữa, do đó dần dần nhiều tiếng Hán thẩm thấu vào tiếng Việt trở thành những từ Hán Việt, ngày nay chiếm đến 70% trong ngôn ngữ Việt Nam; và lắm từ ngữ, lắm thành ngữ Hán Việt lại có ý nghĩa lệch đi, thậm chí hoàn toàn khác với từ gốc trong tiếng Hán, một phần cũng vì dùng theo văn phạm, văn pháp tiếng Việt vốn ngược với văn pháp tiếng Hán. Tưởng tượng xem một anh khóa ngày xưa học Kinh Thi bài “Lang bạt 1” này, anh đọc theo âm Hán Việt "lang bạt kỳ hồ" rồi bàn luận với bạn học, và nhân đó dùng thành ngữ này để diễu cợt một anh bạn khác đi đứng hấp tấp bộp chộp như con sói trong bài. Tình cờ có hai người em gái trong nhà nghe được, thích thú kháu nhau về anh chàng đi đứng hấp tấp ấy, lại cũng là một anh chàng ưa “lang thang rày đây mai đó”, nên các cô đã hiểu các từ nghe lóm được đó theo tiếng Việt là lang thang, phiêu bạt giang hồ. Và thế là lan truyền ra thành một phiên bản mới hoàn toàn Việt Nam “lang bạt kỳ hồ” có ý nghĩa là “lang thang rày đây mai đó”! * Thiển nghĩ “lang bạt kỳ hồ” có ý nghĩa là “lang thang rày đây mai đó” của Việt Nam nghe có vẻ hay ho, tình tứ và hiện đại hơn nhiều, so với ý nghĩa trong Kinh Thi về chó sói và đại phu quý tộc gì đấy, đi đứng khác nhau thế nào, ngày nay không còn hợp thời nữa. Vả lại, nước đồng văn với Việt Nam là Nhật Bản cũng đã có nhiều kinh nghiệm sáng tạo ra nhiều từ ngữ Hán Nhật hay, đẹp đến nỗi xuất cảng ngược trở lại qua Tàu, những từ ngữ hiện đại như “kinh tế, dân chủ, cộng hòa”,... Vậy thì, thử mưu đồ xuất cảng ngược lại thành ngữ “lang bạt kỳ hồ” ý nghĩa Việt Nam này qua Tàu xem sao nhé. Thử viết lại thành ngữ này bằng chữ Hán như sau, cũng dựa vào Từ điển Thiều Chửu, bản điện tử kỹ thuật số của Đặng Thế Kiệt 浪跋其湖 “lang bạt kỳ hồ” Có hai chữ thay đổi khác trước, chữ “lang” 浪 là “nước chảy băng băng” còn đọc là lãng, nghĩa là sóng, và chữ “hồ” 湖 là cái hồ nước. Hai chữ còn lại được giữ như cũ là 跋 “bạt” nghĩa là “Đi lại luôn luôn gọi là bạt lai báo vãng 跋來報往.”, và “kỳ” 其 nghĩa là “Thửa tiếng Việt bây giờ là “ấy”, lời nói chỉ vào chỗ nào. Như kỳ nhân kỳ sự 其人其事 người ấy sự ấy”. Vậy thì 浪跋其湖 “lang bạt kỳ hồ” có thể hiểu là “nước chảy băng băng””đi lại luôn luôn””hồ nước””nào ấy”. Tương tự như “lang thang rày đây mai đó”. * Nghe người mẹ Việt Nam trách móc đứa con trai cứ “lang bạt kỳ hồ” không chịu ở nhà với cha mẹ anh chị em, mới thấy thành ngữ này dễ thương như thế nào. Và có cả hơi hướm lãng mạn của người lãng tử rày đây mai đó xa nhà nữa, như đã từng thấm trong chiếc va-ly của Nguyễn Tuân, thấm trong câu thơ của Thế Lữ “Rũ áo phong sương trên gác trọ, lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”. Phạm Vũ Thịnh 05 May 2021 "Khi phát hành lại thông tin từ trang này cần phải có sự đồng ý của tác giả và ghi rõ nguồn lấy từ Cảm tưởng, ý kiến xin gởi về t4phamvu
Từ điển mở Wiktionary Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm Mục lục 1 Tiếng Việt Cách phát âm Động từ Đồng nghĩa Dịch Tham khảo Tiếng Việt[sửa] Cách phát âm[sửa] IPA theo giọng Hà Nội Huế Sài Gòn laːŋ˧˧ ɓa̰ːʔt˨˩laːŋ˧˥ ɓa̰ːk˨˨laːŋ˧˧ ɓaːk˨˩˨ Vinh Thanh Chương Hà Tĩnh laːŋ˧˥ ɓaːt˨˨laːŋ˧˥ ɓa̰ːt˨˨laːŋ˧˥˧ ɓa̰ːt˨˨ Động từ[sửa] Nói đi xa xôi không biết đâu mà tìm. Đồng nghĩa[sửa] lang bạt kỳ hồ Dịch[sửa] Tham khảo[sửa] "lang bạt". Hồ Ngọc Đức, Dự án Từ điển tiếng Việt miễn phí chi tiết Lấy từ “ Thể loại Mục từ tiếng ViệtMục từ tiếng Việt có cách phát âm IPAĐộng từĐộng từ tiếng Việt
Ca DaoTàng kinh các 2022-11-10T054412-0500Nghĩa của thành ngữ “Lang bạt kỳ hồ” là gì?Đọc khoἀng 4 phύtNghῖa gốc Con sόi giẫm lên miếng vἀi buộc ở cổ cὐa nό hoặc giẫm lên cάi bόng cὐa cάi bờm trên cổ, chỉ tὶnh trᾳng lύng tύng, vưng mắc, không cό tiến biến đổi Đa phần được hiểu là tὶnh trᾳng lang thang, không ổn định, nay đây mai Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chὐ biên, lang bᾳt kỳ hồ nghῖa là “sống nay đây mai đό ở những ni xa lᾳ”.Nhiều từ điển tiếng Việt khάc cῦng cό định nghῖa tưng tự như thế vὶ bốn tiếng lang bᾳt kỳ hồ thường được nόi gọn thành lang bᾳt đᾶ trở thành một đn vị từ vựng phổ biến trong tiếng nhiên, cάi nghῖa “sống trôi dᾳt đây đό” thông dụng hiện nay cὐa lang bᾳt kỳ hồ chỉ là cάch hiểu mе́o mό so với nghῖa gốc trong tiếng Hάn. Thực chất, lang bᾳt kỳ hồ là một câu cὐa bài th “Lang bᾳt 1” 狼跋 1 thuộc nhόm th Mân Phong 豳風 hoặc Bân Phong cὐa phần Phong trong Kinh Thi1 cὐa Trung Quốc, nguyên vᾰn như sau狼跋其胡、Lang bᾳt kỳ hồ, 載疐其尾。Tάi trί kỳ vῖ. 公孫碩膚、Công tốn thᾳc phu 赤舄几几。Xίch tίch kỷ kỷTᾳm dịchChό sόi bước tới thὶ đᾳp nhằm miếng da thὸng ở cổ Thoάi lui thὶ đᾳp nhằm cάi đuôi Chu công từ tốn nhưng vinh quang to tάt và đẹp đẽ Ngài mang đôi giày đὀ một cάch rất tự nhiên trang trọngBài th này được Chu Hi2 chύ giἀi như sau“Chu công3 dẫu bị lời phỉ bάng nghi ngờ, nhưng cάch xử trί cὐa ngài không mất độ thường, cho nên mới được nhà th khen ngợi. Nόi rằng Chό sόi bước tới thὶ đᾳp nhằm miếng da thὸng ở cổ, thối lui thὶ đᾳp nhằm cάi đuôi у́ nόi tiến thoάi đều khό khᾰn. Cὸn Chu công gặp phἀi biến cố vὶ lời phao truyền phỉ bάng, mà cάch ᾰn ở đi đứng vẫn an nhiên tự đắc như thế, bởi vὶ với đᾳo cao đức cἀ ngài vẫn được yên vui, đức hᾳnh ấy không thể nào nόi xiết được. Cho nên tuy gặp đᾳi biến, ngài vẫn không mất độ vậy, nghῖa gốc cὐa lang bᾳt kỳ hồ dὺng để chỉ hὶnh ἀnh con chό sόi giẫm lên cάi yếm cὐa chίnh nό nên không thể bước tới được; trong đό, “lang” là chό sόi, “bᾳt” là giẫm đᾳp, “kỳ” là một đᾳi từ thay thế cho danh từ “lang” cὸn “hồ” là cάi yếm da dưới cổ cὐa một số loài thύ. Thành ngữ này thường được rύt gọn thành lang bᾳt nhằm để chỉ cάi thế mắc kẹt, không biết làm lу́ do lang bᾳt kỳ hồ từ nghῖa gốc trong tiếng Hάn bị hiểu sai trong tiếng Việt cό thể là do từ nguyên dân gian mà ra. Khi không biết được у́ nghῖa đίch thực cὐa lang bᾳt kỳ hồ, người ta đᾶ liên hệ cάc thành tố cὐa nό với những yếu tố mà mὶnh đᾶ biết. Theo đό, “lang” [chắc] là “lang thang”, “bᾳt” [chắc] là phiêu bᾳt, “hồ” [chắc] là “giang hồ”. Từ đό, lang bᾳt kỳ hồ mới [bị] hiểu thành “sống rày đây mai đό” như cάch hiểu thông dụng hiện thίch1 Kinh Thi cὸn được gọi là Thi Tam Bάch là một bộ tổng tập th ca vô danh gồm khoἀng 311 bài th cὐa Trung Quốc – một trong nᾰm bộ sάch kinh điển cὐa Nho giάo. Cάc bài th trong Kinh Thi được sάng tάc trong khoἀng thời gian 500 nᾰm, từ đầu thời Tây Chu tk 11–771 TCN đến giữa thời Xuân Thu 770–476 TCN. Trong số 311 bài th, cό 6 bài chỉ cό đề mục chứ không cό lời, gọi là “dật thi” tức th đᾶ mất. Trong 305 bài th cὸn lᾳi, Kinh Thi được chia thành 3 phần gồm Phong, Nhᾶ, Tụng. Bài th Lang bᾳt 1 liên quan đến thành ngữ “lang bᾳt kỳ hồ” thuộc phần Phong.2 Chu Hi hoặc Chu Hy sinh nᾰm 1130, mất nᾰm 1200, là người đᾶ phάt triển học thuyết lί – khί cὐa Trὶnh Hᾳo và Trὶnh Di, đᾶ đưa lί học lên thành một hệ thống duy tâm khάch quan hoàn chỉnh, được gọi là Trὶnh Chu lί học. Lί học Chu Hi cό ἀnh hưởng lớn về sau ở Trung Quốc và trở thành tông phάi chίnh cὐa Nho học thời Minh – Thanh. Học thuyết cὐa Chu Hi cῦng đᾶ ἀnh hưởng mᾳnh mẽ đến cάc nước khάc ở Á Đông. Ở Việt Nam, thế kỉ XVI – XVIII, cάc nội dung lί học cὐa Chu Hi thường được nhắc tới. Ở Nhật Bἀn, vào thời Đức Xuyên 1603 – 1867 việc nghiên cứu Chu Tử Chu Tử học rất thịnh hành.3 Chu Công 1043 TCN? – ? tên thật là C Đάn, cὸn gọi là Thύc Đάn, Chu Đάn hay Chu Vᾰn Công, là công thần khai quốc nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc. Ông cό công giύp Chu Vῦ vưng C Phάt lập ra nhà Chu, giành quyền thống trị Trung Hoa từ tay nhà khi Chu Vῦ Vưng chết, C Đάn đᾶ giύp Tân vưng là Chu Thành vưng xây dựng và phάt triển nhà Chu. Hὶnh ἀnh cὐa ông tiêu biểu cho tấm lὸng trung quân phὸ chύa, không sinh dị tâm, thường được hậu thế về sau nhắc đến cὺng với Y Doᾶn nhà Thưng. Nhà Chu dưới sự nhiếp chίnh cὐa ông đᾶ vưn lên thành một nước mᾳnh mẽ, tᾳo tiền đề cho công cuộc xây dựng nên nền Vᾰn minh Trung Hoa rực rỡ về sau. Công lao to lớn cὐa C Đάn với sự phάt triển cὐa Vᾰn minh Trung Hoa khiến người ta gọi ông bằng chức vụ là Chu Công, quên đi cάi tên C Đάn, khiến cho nhiều người lầm tưởng Chu Công là tên thật cὐa ông.
Tiếng Việt[sửa] Cách phát âm[sửa] IPA theo giọng Hà Nội Huế Sài Gòn laːŋ˧˧ ɓa̰ːʔt˨˩ ki̤˨˩ ho̤˨˩laːŋ˧˥ ɓa̰ːk˨˨ ki˧˧ ho˧˧laːŋ˧˧ ɓaːk˨˩˨ ki˨˩ ho˨˩ Vinh Thanh Chương Hà Tĩnh laːŋ˧˥ ɓaːt˨˨ ki˧˧ ho˧˧laːŋ˧˥ ɓa̰ːt˨˨ ki˧˧ ho˧˧laːŋ˧˥˧ ɓa̰ːt˨˨ ki˧˧ ho˧˧ Thành ngữ[sửa] lang bạt kỳ hồ Nghĩa gốc Con sói giẫm lên miếng vải buộc ở cổ của nó hoặc giẫm lên cái bóng của cái bờm trên cổ, chỉ tình trạng lúng túng, vương mắc, không có tiến triển. Nghĩa biến đổi Đa phần được hiểu là tình trạng lang thang, không ổn định, nay đây mai đó. Dịch[sửa] Mục từ này được viết dùng mẫu, và có thể còn sơ khai. Bạn có thể viết bổ sung.Xin xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi mục từ.
lang bạt kỳ hồ